Sở hữu trí tuệ trong Hiệp định TPP: Chỉ thấy thách thức
Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013
Hiệp
định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) là sân chơi cho các doanh nghiệp, bởi
vậy tiếng nói từ cộng đồng doanh nghiệp là hết sức quan trọng. Xét riêng về quyền
sở hữu trí tuệ (SHTT), một vấn đề đầy thách thức khi gia nhập TTP, các doanh
nghiệp cần mạnh mẽ lên tiếng đối với Đoàn đàm phán Việt Nam để có các chiến lược
phù hợp.
Thứ
nhất, yêu cầu bác bỏ các đề xuất chưa phù hợp, nhất là đối với lĩnh vực dược
phẩm và sản xuất nông nghiệp, không chấp nhận việc gia tăng thời hạn các quyền
tác giả, không bổ sung các đối tượng được bảo hộ; không hạ thấp các tiêu chuẩn
bảo hộ và yêu cầu có lộ trình tham gia.
Thứ
hai, bám sát các tiêu chuẩn mà TRIPs[1] đã đề ra. Việt Nam vẫn đang trên tiến
trình đáp ứng các tiêu chuẩn của TRIPs từ sau khi gia nhập WTO nên việc áp dụng
các quy định nào khác có khung pháp lý về SHTT cao hơn đều vượt quá khả năng
của các doanh nghiệp. Hiện có một số bản đề xuất về SHTT của các nước được tiết
lộ, trong đó đề xuất của Hoa Kỳ có ảnh hưởng lớn nhất.
Dược
phẩm và nông hoá phẩm chịu rào cản lớn
Quyền
SHTT trong TPP đặc biệt bất lợi đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực dược phẩm và nông hóa phẩm. TPP hạn chế sự cạnh tranh trong kinh doanh và
sử dụng thuốc generic là loại thuốc sản xuất theo biệt dược đã hết thời hạn bảo
hộ độc quyền sáng chế.
Đề
xuất của Hoa Kỳ yêu cầu bảo hộ cho cả thực vật, động vật và các phương pháp
phòng ngừa, chẩn đoán, chữa bệnh cho cả người và động vật. Khi đó, chi phí cho
việc nuôi trồng, phòng và chữa bệnh sẽ lớn hơn nhiều.
Việc
sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi phụ thuộc vào sự cho phép và trả phí cho
chủ sở hữu bản quyền. Việc lưu giữ giống để sử dụng từ mùa trước sang mùa sau
cũng sẽ bị ngăn cản.
Liên
quan đến độc quyền dữ liệu, TPP quy định các doanh nghiệp muốn đăng ký lưu hành
một sản phẩm tương tự dù đã hết hạn bản quyền phải tự tập hợp các dữ liệu và
thực hiện lại tất cả các thử nghiệm lâm sàng. Điều này làm gia tăng chi phí sản
xuất cho các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.
Thời
gian bảo hộ tác quyền cũng được đề xuất thêm từ 15-20 năm, khiến cho các doanh
nghiệp chịu thiệt hại thêm số năm tương ứng, làm cản trở tri thức và phát triển
kinh tế.
Vi
phạm bản quyền thêm rối?
Theo
BSA, năm 2011 Việt Nam đứng thứ 21 về mức độ vi phạm bản quyền phần mềm với tỷ
lệ vi phạm lên tới 81%, tương ứng với giá trị là 395 triệu đô la.
Mức
độ vi phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam qua các năm
Nguồn:
BSA, "2011 BSA Global Software Piracy Study, Ninth Edition"
Dễ
thấy các doanh nghiệp Việt Nam khó lòng đạt được các tiêu chí mà TPP đặt ra.
Tình trạng vi phạm bản quyền có thể bị làm cho trầm trọng hơn, khả năng bị kiện
cũng lớn hơn, làm phát sinh các chi phí về tòa án và trọng tài.
Khó
dễ...bằng sáng chế
Hoa
Kỳ đang định hướng dễ dàng hơn trong việc cấp bằng sáng chế nhưng ngược lại thì
việc phản đối hay hủy bỏ bằng sáng chế lại trở nên khó khăn.
Khi
muốn phản đối một bằng bảo hộ sáng chế, việc phản đối này không được phép thực
hiện trước khi bằng sáng chế được cấp. Điều này làm giảm tính minh bạch và có
thể khiến gia tăng các vụ kiện tụng về sáng chế.
Trong
lĩnh vực y tế, các doanh nghiệp sản xuất thuốc generic tiếp cận thị trường khó
khăn hơn, tình trạng độc quyền dược phẩm thiếu cơ sở vẫn tiếp tục tồn tại cho
tới khi các phản đối sau khi cấp bằng có kết quả cuối cùng.
Về
vấn đề liên kết xin cấp bằng sáng chế, mỗi đơn yêu cầu cho phép một sản phẩm
thuốc tiếp cận thị trường, cơ quan chức năng phải rà soát và thông báo cho chủ
sở hữu các bằng sáng chế có liên quan biết, nếu có khiếu nại phải dừng việc cấp
phép cho đến khi khiếu nại được giải quyết.
Quy
định này tạo điều kiện cho chủ sở hữu văn bằng của Mỹ áp chế và gây khó dễ cho
các doanh nghiệp Việt Nam bởi các cơ quan có thẩm quyền có thể tự động trì hoãn
cấp phép lưu hành cho các loại thuốc generic khi có khiếu nại. Trong khi thuốc
sản xuất ở Việt Nam, hay thuốc nhập từ Ấn Độ, đa phần là thuốc gốc giá rẻ.
Việt
Nam hiện tại khó lòng có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn về SHTT khi gia nhập
TPP. Do đó, Việt Nam cần thảo luận đàm phán về SHTT trong TPP theo hai hướng:
Một mặt, hạn chế tối đa mọi sự điều chỉnh làm mở rộng các quyền của tác giả.
Mặt khác, phản đối việc kéo dài thời hạn bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên
quan so với quy định của TRIPS.
[1]
TRIPS là hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu
trí tuệ được ký kết cùng với sự ra đời của WTO. TRIPS là một điều ước quốc tế đa
phương quan trọng trong lĩnh vực SHTT, phải được tất cả các nước thành viên WTO
tuân thủ và thi hành.
Đinh
Hoàng Thắng
Học
viên Chính sách Công, khóa MPP05
Tags:
tin-tuc-so-huu-tri-tue
Ý kiến bạn đọc [ 0 ]
Ý kiến của bạn