Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013
Song hành với sự phát triển của doanh nghiệp, quyền sở hữu nhãn hiệu có thể tồn tại mãi mãi và trở thành tài sản vô giá của doanh nghiệp. Do đó, việc xây dựng, đăng ký, sử dụng, bảo vệ nhãn hiệu đều rất quan trọng và cần thực hiện chặt chẽ.

Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ xin đề cập một số vấn đề mà các doanh nghiệp thường gặp khi lựa chọn, thiết kế và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và một số nội dung có liên quan.
 Theo quy định của pháp luật nước ta, trong số những người cùng nộp đơn bảo hộ cho cùng một nhãn hiệu, quyền bảo hộ được dành cho đơn đăng ký được nộp sớm nhất tại Cục Sở hữu trí tuệ, các đơn được nộp sau cho cùng một nhãn hiệu hàng hóa sẽ bị từ chối bảo hộ. Vì vậy để giữ nhãn hiệu của mình doanh nghiệp nên đăng ký bảo hộ càng sớm càng tốt.
Để được chấp nhận bảo hộ, một nhãn hiệu cùng một lúc phải đáp ứng các điều kiện bảo hộ và không thuộc một trong các dấu hiệu loại trừ. Nhiều nhãn hiệu được nộp đơn và kèm theo đó là các khoản phí và lệ phí, nhưng do khâu thiết kế không chuẩn nên việc bảo hộ nhãn hiệu bị từ chối sau vài tháng nộp đơn, vì không đáp ứng điều kiện bảo hộ. Trước khi nộp đơn bạn cần đánh giá nhãn hiệu định đăng ký theo các điều kiện bảo hộ (Điều 72 và 73 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).
Nhãn hiệu hàng hóa sẽ bị từ chối bảo hộ nếu có các dấu hiệu loại trừ sau:
- Không có khả năng phân biệt của nhãn hiệu (cấu tạo quá đơn giản, mang tính mô tả hàng hóa, trùng với dấu hiệu có chức năng thông dụng khác…);
- Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với quốc kỳ, quốc huy các nước, với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của quốc gia và quốc tế,
nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
- Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam và nước ngoài;
- Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được bảo hộ hoặc nộp đơn đăng ký sớm hơn, hoặc được coi là nổi tiếng hoặc được thừa nhận rộng rãi;  
- Trùng hoặc tương tự với những đối tượng đã thuộc quyền sở hữu công nghiệp của người khác, gồm tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả;
- Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
- Làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dung về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.
 Khi lựa chọn một nhãn hiệu, doanh nghiệp cần xác định phạm vi sử dụng nhãn hiệu (trong nước, ngoài nước). Nhãn hiệu cần được thiết kế đơn giản, chữ hoặc hình, hoặc sự kết hợp các yếu tố này trong một nhãn hiệu cần phải tạo ra sự khác biệt, giúp người tiêu dùng dễ nhận biết, dễ nhớ, dễ đọc, truyền tải được ý nghĩa hoặc thông điệp của doanh nghiệp đến khách hàng, có thể gắn lên sản phẩm hoặc dịch vụ và dễ dàng được chấp nhận bởi nhiều cộng đồng thuộc các nền văn hóa và các quốc gia khác nhau. Một nhãn hiệu dù được bảo hộ và không có tranh chấp, nhưng nếu phạm phải những điều cấm kỵ về văn hóa và tôn giáo thì nhãn hiệu đó rất khó thâm nhập vào cộng đồng văn hoá hoặc tôn giáo đó.
Ngoài ra, cần phải tra cứu thông tin về nhãn hiệu trước khi đăng ký để loại trừ khả năng trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của người khác. Nếu việc tra cứu chỉ ra nhãn hiệu dự định đăng ký bảo hộ trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đã được nộp đơn hay bảo hộ cho cùng nhóm sản phẩm hoặc dịch vụ giúp cho doanh nghiệp quyết định thay đổi từ đầu mà không phải mất nhiều tháng thậm chí cả năm sau mới biết điều đó, thậm chí đã in ấn nhãn hiệu lên hàng loạt bao bì sản phẩm, giấy tờ giao dịch, phương tiện quảng cáo, biển hiệu… sau đó phải thay đổi sẽ rất tốn kém. Thực tế tại tỉnh Sóc Trăng đã có doanh nghiệp tốn nhiều chi phí quảng cáo cho nhãn hiệu của mình vài năm sau thì phát hiện ra nhãn hiệu đó trùng với một nhãn hiệu có trước, dẫn đến tranh chấp và phần thua bao giờ cũng thuộc về người đi sau.
Việc lựa chọn, thiết kế nhãn hiệu kỹ lưỡng sẽ nâng cao khả năng thành công khi đăng ký. Do đó, doanh nghiệp cần chọn nhà tư vấn hỗ trợ từ đầu sẽ hạn chế việc sửa đổi, giải trình liên quan đến sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm, mô tả nhãn hiệu, phạm vi bảo hộ…, vì không phải doanh nghiệp nào cũng nắm vững nội dung này.
 Một điều dễ thấy, chi phí cho dịch vụ tư vấn thiết kế, đăng ký nhãn hiệu bao giờ cũng thấp hơn rất nhiều so với chi phí mà doanh nghiệp trực tiếp thực hiện, xét về mặt tài chính, thời gian, công sức, cơ hội kinh doanh,.v.v… đó là chưa kể đến chi phí trong trường hợp phát sinh tranh chấp. Vì vậy, làm tốt khâu thiết kế và tra cứu ban đầu sẽ giảm thiểu rủi ro, tiết kiệm cho doanh nghiệp trong bước đầu tạo dựng nhãn hiệu.
 Chủ sở hữu được pháp luật bảo đảm độc quyền sử dụng nhãn hiệu nhằm mục đích thương mại (gắn nhãn hiệu lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, dịch vụ, đưa vào lưu thông, xuất nhập khẩu sản phẩm mang nhãn hiệu hàng hóa đó) trong thời hạn bảo hộ (10 năm, có thể gia hạn liên tiếp không giới hạn số lần). Bất kỳ người nào sử dụng nhãn hiệu mà không được phép của chủ sở hữu sẽ bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu và sẽ bị xử lý theo quy định.
Để đăng ký bảo hộ một nhãn hiệu trong nước, doanh nghiệp phải nộp các khoản phí và lệ phí (nộp đơn, công bố đơn, xét nghiệm nội dung, đăng bạ, công bố quyết định, cấp và công bố Giấy chứng nhận đăng ký…) tổng cộng khoảng 1.040.000 đồng đối với các sản phẩm thuộc cùng một nhóm. Khi hết thời hạn bảo bộ, nếu gia hạn hiệu lực sau mỗi kỳ hạn 10 năm, lệ phí gia hạn là 540.000 đồng.
Để khai thác, doanh nghiệp cần sớm sử dụng nhãn hiệu độc quyền của mình, mặt khác cần củng cố và nâng cao giá trị của nhãn hiệu. Có thể:
- Chuyển giao li-xăng (cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu của mình) là hình thức khai thác quyền sở hữu nhãn hiệu một cách gián tiếp. Hình thức này thích hợp khi doanh nghiệp không đủ năng lực đáp ứng nhu cầu thị trường.
- Chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng nhãn hiệu của mình để thu lại một khoản tiền nhất định. Hình thức này thích hợp khi doanh nghiệp không muốn hoặc không thể tiếp tục khai thác quyền đó.
Việc chuyển giao li – xăng cũng như việc chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu, phải được thực hiện dưới hình thức ký kết hợp đồng bằng văn bản và phải được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ.
Để tự bảo vệ quyền sở hữu nhãn hiệu, doanh nghiệp chủ động theo dõi thị trường, nếu có hành vi xâm phạm, có thể thực hiện các biện pháp sau đây:
- Yêu cầu tổ chức giám định về sở hữu trí tuệ (khi cần thiết) xác định nội dung xâm phạm làm cơ sở để bảo vệ quyền lợi của mình;
- Trực tiếp yêu cầu bên vi phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;
- Yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương nơi đóng trụ sở của bên vi phạm (Tòa án, Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ, Quản lý Thị trường, Công an, Hải quan, UBND các cấp…) áp dụng các biện pháp ngăn
chặn hành vi xâm phạm và xử phạt vi phạm hành chính theo quy định;
- Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài nơi bên vi phạm đóng trụ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
- Tình huống khẩn cấp, doanh nghiệp có thể yêu cầu tòa án hoặc các cơ quan bảo vệ pháp luật khác áp dụng các biện pháp khẩn cấp như kê biên, niêm phong, tạm giữ hàng hóa …trước khi tiến hành khiếu nại, tố tụng.
Doanh nghiệp cũng cần theo dõi Công báo Sở hữu công nghiệp để phát hiện trường hợp có người khác nộp đơn đăng ký hoặc được chấp nhận đơn đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình để kịp thời phản đối, khiếu nại.
Và để tránh xâm hại quyền sở hữu công nghiệp của người khác, trước khi quyết định sản xuất, đưa một sản phẩm mới ra thị trường, doanh nghiệp cần phải thẩm tra tình trạng pháp lý về quyền sử dụng nhãn hiệu ghi trên sản phẩm. Tối thiểu, cần tra cứu Đăng bạ quốc gia về sở hữu công nghiệp để xem sản phẩm đó có hay không chứa các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp của người khác. Nếu có, phải cân nhắc khả năng đàm phán để được cấp li-xăng.
Ngoài ra để phát triển sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần thu thập, cập nhật các thông tin sở hữu công nghiệp, tối thiểu phải có các quy định pháp luật, thông tin về các quyền sở hữu công nghiệp đã được xác lập cho người khác trong lĩnh vực kinh doanh của mình sẽ tránh việc đầu tư trùng lắp không cần thiết cho doanh nghiệp.
Tài liệu tham khảo
1/ Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
2/ Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;
3/ Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ, hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;
4/ Thông tư số 22/2009/TT-BTC ngày 04/02/2009 của Bộ Tài chính Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp;

5/ Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Quyền Sở hữu trí tuệ Bảo vệ thành quả đầu tư của doanh nghiệp, năm 2004.
Tags:

Ý kiến bạn đọc [ 0 ]


Ý kiến của bạn