Giới thiệu khái quát các điều ước quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ
Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013
Paul E. Salmon
Việc bảo hộ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ (IPR) trên thế giới có ý
nghĩa sống còn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả mọi quốc
gia trong tương lai. Vì các điều ước quốc tế về IPR tạo ra cơ sở pháp lý và quy
định chung nên những văn bản này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo
vệ chặt chẽ sở hữu trí tuệ, và nhờ vậy sẽ thúc đẩy việc mở rộng kinh tế toàn
cầu và phát triển những công nghệ mới.
Tuy nhiên, mãi đến khi vòng đàm phán Uruguay của Hiệp định chung
về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) sáng lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và
ký kết Hiệp định thương mại về Quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS) năm 1994 thì cộng
đồng quốc tế mới có một nguồn thống nhất về các chuẩn mực và nghĩa vụ vể quyền
sở hữu trí tuệ.
Tầm quan trọng của Hiệp định TRIPS được thể hiện ở ba điểm:
1.
Đây là hiệp định duy nhất đầu
tiên thực sự mang tính quốc tế đã đưa ra các chuẩn mực tối thiểu về bảo hộ nhiều
hình thức của sở hữu trí tuệ;
2.
Đây là hiệp định quốc tế đầu
tiên về sở hữu trí tuệ có những quy định cụ thể về trách nhiệm dân sự, hình sự
và bảo vệ biên giới; và
3.
Đây là hiệp định quốc tế đầu
tiên về sở hữu trí tuệ được áp dụng để giải quyết tranh chấp. Trên thực tế,
TRIPS đặt nền tảng cho một hạ tầng cơ sở vững chắc và hiện đại trong lĩnh vực
quyền sở hữu trí tuệ cho cộng đồng quốc tế.
Là một nước tích cực thực hiện Hiệp định TRIPS và tất cả các điều
ước quốc tế khác về IPR nêu ra dưới đây, Chính phủ Mỹ khuyến khích các quốc gia
khác tham gia và thực thi các điều ước quốc tế này.
TRIPS
Hiệp định TRIPS có hiệu lực vào năm 1995 trong khuôn khổ Hiệp định
Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới. TRIPS đã tổng hợp và xây dựng trên cơ sở
các hiệp định quan trọng và mới nhất về sở hữu trí tuệ do Tổ chức Sở hữu Trí
tuệ Thế giới (WIPO) thực thi với Công ước Paris về Bảo hộ Tài sản Công nghiệp
và Công ước Berne về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật – những hiệp
định có từ những năm 1880.
Hiệp định TRIPS có vị thế độc nhất trong số các điều ước quốc tế
về IPR bởi lẽ việc trở thành thành viên của WTO đồng nghĩa với việc tham gia
“trọn gói” các hiệp ước. Nói cách khác, các quốc gia thành viên của WTO không
được phép lựa chọn các hiệp ước mà phải tuân thủ tất cả các hiệp ước đa phương
của WTO, bao gồm cả TRIPS.
Hiệp định TRIPS áp dụng các nguyên tắc cơ bản trong thương mại
quốc tế đối với các quốc gia thành viên về sở hữu trí tuệ, trong đó có quy chế
đối xử quốc gia và quy chế tối huệ quốc. TRIPS cũng đề ra các chuẩn mực tối
thiểu về mức độ, phạm vi và việc sử dụng bảy hình thức sở hữu trí tuệ - quyền
tác giả, nhãn hiệu, xuất xứ địa lý, thiết kế công nghiệp, bằng phát minh sáng
chế, thiết kế bố trí mạch điện tử tích hợp và thông tin mật (bí mật thương
mại). TRIPS cũng nêu cụ thể những hạn chế và ngoại lệ có thể chấp nhận nhằm hài
hòa lợi ích sở hữu trí tuệ với lợi ích trong những lĩnh vực khác, chẳng hạn như
sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế. (Toàn văn Hiệp định TRIPS cũng như
phần giải thích các điều khoản của hiệp định có tại trang web của WTO
http://www.wto.org).
Theo Hiệp định TRIPS, các nước phát triển hoàn toàn thực thi hiệp
định này vào ngày 1/1/1996. Các quốc gia đang phát triển và những thành viên
đang trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường được phép lùi ngày thực hiện
đầy đủ các nghĩa vụ quy định trong TRIPS đến 1/1/2000. Các nước kém phát triển
được phép bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ của mình vào ngày 1/1/2006, và có khả
năng được kéo dài thời kỳ chuyển giao nếu có yêu cầu. Các quốc gia đang phát
triển chưa có quy định bảo hộ bằng phát minh sáng chế đối với một số lĩnh vực
công nghệ nhất định tính đến thời điểm xin gia nhập thì được phép kéo dài thêm
năm năm nữa, tức là đến ngày 1/1/2005, để ban hành quy định bảo hộ như vậy.
Tại Hội nghị Bộ trưởng Thương mại của WTO tại Doha năm 2001, các
quốc gia kém phát triển đã được gia hạn thêm 10 năm để thực thi các quy định về
bảo hộ bằng phát minh sáng chế và “bí mật thương mại” trong khuôn khổ của TRIPS
vì những quy định này có liên quan đến dược phẩm.
Tuy nhiên, do Hiệp định TRIPS đã trải qua 10 năm nên không thể bao
hàm được một số diễn biến mới, như các vấn đề về Internet và tác quyền kỹ thuật
số, công nghệ sinh học tiên tiến, và quá trình nhất thể hóa những chuẩn mực
toàn cầu về luật pháp hoặc thông lệ. Hiệp định này mới chỉ đặt nền tảng cho
việc bảo hộ IPR ở mức tối thiểu chứ chưa phải tối đa.
Kể từ khi ký kết Hiệp định TRIPS, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới
đã giải quyết nhiều vấn đề tác quyền kỹ thuật số trong các hiệp định về
Internet, cụ thể Hiệp định Quyền tác giả của WIPO (WCT) và Hiệp định về Biểu
diễn và Ghi âm của WIPO (WPPT).
Dưới đây là phần tóm lược một số hiệp định khác của WIPO bổ sung
cho Hiệp định TRIPS, đề cập đến những phát triển công nghệ mới. Toàn văn các
hiệp định của WIPO đề cập dưới đây có tại địa chỉ http://www.wipo.int/.
HIỆP ƯỚC VỀ LUẬT NHÃN HIỆU
Hiệp ước về Luật Nhãn hiệu (TLT), được thông qua ngày 27/10/1994,
đã có hiệu lực ngày 1/8/1996. Tính đến ngày 1/7/2005, 33 quốc gia, trong đó có
Hoa Kỳ, đã tham gia hiệp định. TLT được ban hành để đơn giản hóa các thủ tục
xin cấp phép, đăng ký và hài hòa thủ tục đăng ký nhãn hiệu giữa các quốc gia
khác nhau. TLT đã hài hòa thủ tục của các cơ quan cấp phép đăng ký nhãn hiệu
của các quốc gia khác nhau thông qua việc quy định những yêu cầu tối đa mà một
bên tham gia có thể đưa ra.
TLT dành cho nhãn hiệu dịch vụ - dấu hiệu nhận biết đặc thù của
các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ để phân biệt với hàng hóa - quy chế “bình
đẳng” với nhãn hiệu. Trước đây, nhiều nước dành quy chế pháp lý khác nhau cho
nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. TLT đã yêu cầu các quốc gia thành viên
đăng ký nhãn hiệu dịch vụ và dành quy chế pháp lý tương tự như nhãn hiệu hàng
hóa.
Theo quan điểm của những người sở hữu nhãn hiệu, TLT đã tiết kiệm
thời gian và tiền bạc cho quá trình chuẩn bị và lập hồ sơ xin đăng ký. Hiệp
định này đã đơn giản hóa quy trình gia hạn sau khi đăng ký, thu âm, đổi tên và
địa chỉ và quyền hạn của người được ủy quyền. Các quốc gia tham gia TLT có
nghĩa vụ cho phép đăng ký đa chủng loại, giúp chủ sở hữu nhãn hiệu xin đăng ký
một lần cho nhiều chủng loại hàng hóa và dịch vụ.
Một khía cạnh quan trọng khác của TLT cũng đem lại lợi ích cho chủ
sở hữu nhãn hiệu là cấm các cơ quan cấp phép của các quốc gia thành viên yêu
cầu xác thực các hồ sơ và chữ ký đối với các đơn thư xin đăng ký nhãn hiệu.
Nhiều quốc gia yêu cầu bất kỳ chữ ký nào nộp kèm trong hồ sơ đăng ký nhãn hiệu
cũng cần phải công chứng hoặc phải được hợp pháp hóa phù hợp với luật pháp của
quốc gia đó. Theo quy định của TLT, trong hầu hết mọi trường hợp, không cần
phải tuân thủ các thủ tục này nữa. Khía cạnh này cho phép người chủ sở hữu nhãn
hiệu hoàn tất và nộp hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu nhanh hơn với chi phí thấp
hơn.
Một lợi thế nữa của TLT là việc hài hòa thời hạn đăng kí nhãn hiệu
ban đầu và gia hạn giữa các quốc gia thành viên: TLT quy định thời hạn đăng ký
ban đầu là 10 năm, và có thêm 10 năm gia hạn.
Các đặc điểm chính khác của TLT còn bao gồm việc giới thiệu hệ
thống ứng dụng đăng ký mục đích sử dụng (có bằng chứng chứng tỏ các nhãn hiệu
này đã sử dụng trước khi đăng ký); hợp lý hóa thủ tục gia hạn; giảm thiểu những
yêu cầu hoàn tất ngày nộp đơn đăng ký và đơn giản hóa thủ tục thay đổi tên và
sở hữu hồ sơ và đăng ký nhãn hiệu.
Nói tóm lại, TLT nhằm tạo điều kiện thúc đẩy thương mại quốc tế:
Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các cá nhân và các doanh nghiệp
nhỏ đang tìm kiếm thị trường ở các quốc gia khác. Hiện tại, Ủy ban Thường trực
về Nhãn hiệu, Thiết kế công nghiệp và Ký hiệu địa lý WIPO (SCT) đang đàm phán
các đề xuất sửa đổi TLT. Ủy ban này kiến nghị Đại hội đồng WIPO tổ chức một hội
nghị ngoại giao từ ngày 13-31/3/2006 để xem xét việc thông qua TLT sửa đổi.
HIỆP ƯỚC VỀ LUẬT CHỨNG NHẬN PHÁT MINH, SÁNG CHẾ
Hiệp ước về Luật Chứng nhận Phát minh, Sáng chế (PLT) do WIPO
thông qua vào tháng 6 năm 2000 đã có hiệu lực ngày 28/4/2005. PLT là kết quả
của nhiều năm tiến hành đàm phán đa phương về hài hòa hệ thống chứng nhận phát
minh sáng chế trên thế giới. PLT đã hài hòa một số thủ tục đăng ký bằng phát
minh sáng chế nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ những thủ tục và nguy cơ bị mất
quyền sở hữu. PLT không hài hòa nội dung luật chứng nhận phát minh, sáng chế -
tức là luật của mỗi quốc gia quy định các điều kiện bắt buộc để có thể nhận
được bằng phát minh, sáng chế ở quốc gia đó. Tuy nhiên, WIPO đang tiến hành
thương thảo nhằm hài hòa nội dung luật chứng nhận phát minh, sáng chế.
PLT tạo điều kiện cho những người nộp đơn đăng ký bằng phát minh
và chủ sở hữu bằng phát minh được cấp và duy trì bằng phát minh, sáng chế khắp
nơi trên thế giới thông qua việc đơn giản hóa và – ở một mức độ rộng rãi – hợp
nhất các yêu cầu của quốc gia và quốc tế gắn liền với việc đăng ký và cấp bằng
phát minh sáng chế.
PLT:
·
đơn giản hóa và giảm thiểu các
yêu cầu đăng ký cấp bằng phát minh, sáng chế để hẹn ngày lập hồ sơ;
·
giới hạn những yêu cầu về mặt
hình thức mà các bên ký kết có thể đưa ra;
·
nới lỏng những yêu cầu về mặt
trình bày đối với nhiều vấn đề mang tính hình thức;
·
nới lỏng những giới hạn về thời
gian mà Văn phòng Tác quyền của một quốc gia có thể đưa ra và phục hồi quyền
khi một người xin đăng ký hoặc sở hữu đã không tuân thủ quy định về giới hạn thời
gian và việc không tuân thủ đó đã có hậu quả trực tiếp là gây ra mất các quyền
lợi; và
·
quy định việc hiệu chỉnh hoặc bổ
sung các yêu cầu ưu tiên và phục hồi quyền ưu tiên.
HỆ THỐNG HIỆP ƯỚC HỢP TÁC VỀ BẰNG PHÁT MINH SÁNG CHẾ
Hiệp định hợp tác về bằng phát minh sáng chế (PCT) đã bắt đầu manh
nha từ năm 1966 khi Ban Điều hành Công ước Paris về Bảo hộ Quyền Sở hữu trí tuệ
kêu gọi nghiên cứu tìm cách giảm bớt những gánh nặng có liên quan tới việc lập
hồ sơ và được cấp bằng cho cùng một phát minh sáng chế ở các quốc gia khác nhau
đối với những người đăng ký và cơ quan cấp bằng phát minh sáng chế. Kết quả là
Hiệp định PTC của WIPO đã được ký kết tại Washington, D.C. năm 1970 và có hiệu
lực năm 1978. Hiệp định đã được sửa đổi năm 1979, 1984, 2001 và 2004. Tính đến
ngày 15/9/2005 đã có 128 bên tham gia ký kết PCT.
Nhờ đơn giản hóa quá trình lập hồ sơ đăng ký bằng phát minh sáng
chế nên PCT đã giúp những nhà phát minh được bảo hộ bằng phát minh của họ trên
toàn thế giới. Hiệp định này cũng khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và các cá
nhân tìm cách bảo hộ bằng phát minh sáng chế của họ ở nước ngoài.
Theo hiệp định này, các công dân của một quốc gia tham gia ký kết
chỉ cần lập một hồ sơ đăng ký cấp bằng phát minh duy nhất - thường được gọi là
hồ sơ “quốc tế” – và gửi tới Cơ quan cấp bằng phát minh của nước họ hoặc tới
WIPO với tư cách là cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Như vậy, đơn xin cấp bằng phát
minh sáng chế của họ sẽ tự động được gửi tới tất cả 127 quốc gia tham gia PCT.
Hiệp định cho phép những người nộp đơn có thời gian dài hơn – 30
tháng – để cam kết trang trải mọi chi phí dịch thuật, lệ phí hồ sơ trong nước
và thực thi ở tất cả mọi quốc gia nơi họ muốn được bảo hộ. Nhờ cho phép người
nộp đơn có nhiều thời gian và thông tin hơn để đánh giá thế mạnh trong bằng
phát minh sáng chế tương lai của họ và quyết định kế hoạch tiếp thị của mình,
thời hạn 30 tháng giúp các ứng viên lựa chọn tốt hơn những quốc gia nơi họ muốn
nộp hồ sơ. Đây là một bước tiến quan trọng so với thời hạn ưu tiên 12 tháng đã
được quy định trong Công ước Paris đối với những người nộp đơn xin cấp bằng
phát minh sáng chế.
Trong khuôn khổ PCT, WIPO đã ấn hành “áp dụng tính quốc tế” cùng
với hướng dẫn về việc công nhận phát minh sáng chế. Việc hướng dẫn như vậy có
nghĩa là tiến hành nghiên cứu sơ bộ và/hoặc kiểm tra thông qua một “cơ quan
quốc tế” - một trong 11 cơ quan cấp bằng phát minh sáng chế hiện đáp ứng tiêu
chuẩn tối thiểu về nhân lực và các yêu cầu xử lý hồ sơ khác được WIPO ủy quyền.
Việc chỉ dẫn như vậy giúp người nộp đơn quyết định xem có nên tiếp tục nộp hồ
sơ xin cấp bằng phát minh, sáng chế tới các cơ quan cấp bằng phát minh, sáng
chế ở trong nước hay trong khu vực hay không. Các cơ quan cấp bằng phát minh
cũng được hưởng lợi từ quá trình chỉ dẫn này khi quyết định có nên cấp bằng phát
minh sáng chế quốc gia hay khu vực dựa theo hồ sơ đăng ký trong khuôn khổ của
PCT hay không. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã xác định những văn bản
liên quan cần thiết giúp các cơ quan cấp bằng phát minh, sáng chế đảm bảo nguồn
lực trong quá trình điều tra và nâng cao chất lượng kiểm tra của họ.
NGHỊ ĐỊNH THƯ MADRID VỀ HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ CÁC NHÃN HIỆU QUỐC TẾ
Nghị định thư liên quan tới Hiệp định Madrid về đăng ký các nhãn
hiệu quốc tế - Nghị định thư Madrid - đã được thông qua tại thủ đô Tây Ban Nha
ngày 27/6/1989, và có hiệu lực ngày 1/12/1995. Nghị định thư này là một trong
hai hiệp định tạo nên hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế Madrid. Hiệp định đầu
tiên - Hiệp định Madrid 1891 - đã quy định đăng ký nhãn hiệu ở một số quốc gia
thông qua việc đăng ký nhãn hiệu quốc tế với WIPO tại Geneva.
Nghị định thư Madrid đã ra đời vì một số quốc gia gặp nhiều khó
khăn trong quá trình thực hiện Hiệp định Madrid. Điều đó được coi là cải thiện
hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế. Do đó, ngày càng nhiều chủ sở hữu nhãn hiệu
đang sử dụng Nghị định thư Madrid mỗi năm để bảo hộ nhãn hiệu của họ ở nước
ngoài. Tính đến ngày 15/9/2005, đã có 66 quốc gia ký kết Nghị định thư Madrid.
Nghị định thư Madrid là một hiệp định về thủ tục lập hồ sơ chứ
không phải là hiệp định điều chỉnh về mặt nội dung. Nghị định thư giúp những
người sở hữu nhãn hiệu - các cá nhân và doanh nghiệp - bảo vệ được nhãn hiệu
của họ một cách hiệu quả cùng một lúc ở nhiều quốc gia thông qua việc lập hồ sơ
xin cấp bằng phát minh sáng chế tới một cơ quan duy nhất với một ngôn ngữ, một
khoản chi phí và một loại tiền tệ. Hơn nữa, không cần phải lập hồ sơ qua trung
gian. Đơn xin cấp bằng phát minh, sáng chế có thể được lập bằng tiếng Anh,
tiếng Pháp hoặc Tây Ban Nha.
Việc nộp hồ sơ đăng ký mang tính quốc tế cũng có hiệu quả tương tự
như hồ sơ đăng ký nhãn hiệu ở trong nước như đã được người nộp hồ sơ lựa chọn.
Khi cơ quan bảo hộ nhãn hiệu ở một quốc gia được lựa chọn đồng ý bảo hộ thì
nhãn hiệu đó sẽ được bảo hộ trong toàn hệ thống tương tự như cơ quan này đã
đăng ký.
Nghị định thư Madrid cũng đơn giản hóa việc quản lý nhãn hiệu bởi
lẽ một thủ tục đơn giản sẽ giúp Cục Quốc tế của WIPO cập nhật được những thay
đổi sau này về sở hữu, hoặc tên, hoặc địa chỉ của người sở hữu nhãn hiệu.
Trước khi nghị định thư được ban hành, các yêu cầu hành chính phức
tạp đối với việc chuyển giao tài sản bình thường của doanh nghiệp đã gây khó
khăn cho những người sở hữu thực hiện việc chuyển nhượng hợp pháp các nhãn hiệu
của họ trên thế giới. Nghị định thư đã cho phép người sở hữu đăng ký trên phạm
vi quốc tế chỉ bằng một hồ sơ duy nhất, trả tiền một lần trước khi chuyển
nhượng một nhãn hiệu ở tất cả mọi quốc gia tham gia ký kết. Việc gia hạn đăng
ký cũng chỉ có duy nhất một thủ tục đơn giản. Việc đăng ký trên phạm vi quốc tế
có thời hạn 10 năm và thời gian gia hạn mới là 10 năm.
Những người sở hữu nhãn hiệu có thể lựa chọn thêm một số quốc gia
nữa nếu họ quyết định tìm cách bảo hộ ở nhiều quốc gia thành viên hơn hoặc nếu
có thêm nhiều quốc gia mới gia nhập nghị định thư.
Nếu việc đăng ký cơ bản - hoặc việc đăng ký làm cơ sở cho đăng ký
quốc tế - bị hủy vì bất kỳ lý do gì trong năm năm đầu tiên thì công ước Madrid
sẽ tạo điều kiện cho người đăng ký quốc tế chuyển việc đăng ký đó thành một
loạt các hồ sơ đăng ký ở các quốc gia tham gia ký kết như đã lựa chọn. Các đơn
đăng ký này sẽ giữ nguyên ngày ưu tiên như đã nêu trong hồ sơ đăng ký quốc tế
ban đầu ở mỗi nước. Người sở hữu cũng bảo lưu quyền ở mỗi quốc gia thành viên,
ngay cả khi không thực hiện được đăng ký quốc tế.
HỆ THỐNG KÝ GỬI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP QUỐC TẾ LA HAY
Hệ thống La Hay là hệ thống đăng ký quốc tế, cho phép chủ sở hữu
bảo hộ các thiết kế công nghiệp của họ với thủ tục và chi phí thấp nhất. Chỉ
cần một hồ sơ đăng ký quốc tế được nộp cho Cục Quốc tế của WIPO đã có thể thay
thế một loạt các hồ sơ trước đây ở một số quốc gia và/hoặc các tổ chức liên
chính phủ tham gia hệ thống La Hay. Việc quản lý đăng ký quốc tế cũng trở nên
dễ dàng hơn trong hệ thống này. Ví dụ, chỉ cần một thủ tục là có thể thay đổi
tên hoặc địa chỉ của chủ sở hữu, hoặc thay đổi sở hữu đối với một số hoặc tất
cả các bên tham gia ký kết đã được lựa chọn.
Tính đến ngày 26/4/2005, Hệ thống La Hay đã có 42 bên tham gia ký
kết.
HIỆP ƯỚC BUDAPEST VỀ CÔNG NHẬN QUỐC TẾ ĐỐI VỚI KÝ GỬI VI SINH VẬT
NHẰM HOÀN TẤT THỦ TỤC BẰNG PHÁT MINH SÁNG CHẾ
Hiệp định Budapest về công nhận quốc tế đối với việc ký gửi vi
sinh vật nhằm hoàn tất thủ tục bằng phát minh sáng chế đã được ký kết ngày
28/4/1977 và được sửa đổi ngày 26/9/1980. Hiệp định Budapest loại bỏ việc ký
gửi vi sinh vật ở mỗi quốc gia nơi người ta đăng ký bảo hộ bằng phát minh sáng
chế.
Theo hiệp định này, việc ký gửi một vi sinh vật tại “một cơ quan
ký gửi trên phạm vi thế giới” đáp ứng các yêu cầu về ký gửi trong luật về bằng
phát minh sáng chế của tất cả các thành viên tham gia hiệp định. “Cơ quan ký
gửi trên phạm vi thế giới” có khả năng lưu giữ vật liệu sinh học và đã đề ra
các thủ tục đảm bảo việc tuân thủ Hiệp định Budapest. Những thủ tục như vậy bao
gồm các yêu cầu giữ nguyên phần ký gửi trong suốt thời gian có hiệu lực của
bằng phát minh sáng chế, và các mẫu phẩm sẽ chỉ được chuyển đến những người
hoặc chủ thể được phép tiếp nhận.
Việc thành lập một “cơ quan ký gửi trên phạm vi thế giới” đem lại
nhiều thuận lợi cho cả người nộp đơn đăng ký bằng phát minh lẫn quốc gia tham
gia ký kết. Những người nộp đơn đăng ký được hưởng lợi vì yêu cầu ký gửi ở
nhiều quốc gia nơi họ tìm kiếm sự bảo hộ đã giảm đi rất nhiều. Vì việc ký gửi
duy nhất ở bất kỳ “một cơ quan ký gửi trên phạm vi thế giới” nào cũng sẽ đảm
bảo yêu cầu bảo mật ở tất cả mọi quốc gia thành viên nên chi phí mà người đăng
ký bằng phát minh phải trả sẽ thấp hơn rất nhiều. Sử dụng một cơ quan duy nhất
làm nơi ký gửi sẽ tăng cường độ an toàn của ký gửi và tạo cơ chế phân bổ ký
gửi. Các quốc gia tham gia ký kết được hưởng lợi vì họ có thể dựa vào các tiêu
chuẩn thống nhất của hiệp định để đảm bảo việc ký gửi hiệu quả. Họ không cần
phải tự xây dựng một cơ quan ký gửi “được công nhận” để đáp ứng các yêu cầu bảo
mật bằng phát minh sáng chế quốc gia.
Tính đến tháng 5 năm 2005, đã có 60 cơ quan cấp bằng phát minh
sáng chế tuân thủ các điều kiện của Hiệp định Budapest và có 35 “cơ quan ký
gửi” ở 22 quốc gia khác nhau.
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ CÁC GIỐNG CÂY MỚI
Công ước quốc tế về bảo hộ các giống cây mới (UPOV) đã thiết lập
một hệ thống tài sản trí tuệ đã được quốc tế công nhận nhằm bảo vệ các giống
cây mới. Công ước UPOV khuyến khích và dành phần thưởng cho những người nhân
giống cây mới một cách khéo léo và sáng tạo. Bất cứ ai đưa ra giống cây mới có
thể kháng bệnh, kháng hạn, kháng rét hoặc đơn giản đẹp hơn về mặt thẩm mỹ cũng
đều là một nhà phát minh tương tự như ai đó đã cải thiện máy móc của xe hơi
hoặc tìm ra loại thuốc mới. Sự khác biệt duy nhất là những người nhân giống cây
làm việc với những sinh thể chứ không phải các chất vô tri vô giác.
Quá trình tạo ra một loại cây mới thường rất lâu và tốn kém. Tuy
nhiên, việc tái tạo lại một giống cây đã có lại có thể nhanh và tương đối dễ
dàng. Do đó, hệ thống bảo hộ tài sản trí tuệ hữu hiệu cần phải khuyến khích cho
những đổi mới, sáng tạo bằng cách cho phép các nhà đầu tư hoàn vốn đầu tư và
đồng thời truyền bá những kiến thức về phát minh đó cho những người khác để họ
có thể hoàn thiện tốt hơn. Hệ thống UPOV đề ra ba nguyên tắc pháp lý cơ bản về
bảo hộ nhằm khuyến khích những người nhân giống tăng cường óc sáng tạo của họ
bằng cách trao cho họ độc quyền sở hữu phát minh về loại cây của họ trong khi
vẫn khuyến khích tìm ra các loài cây mới.
Trong khuôn khổ hệ thống UPOV thiết lập năm 1991 – một trong những
hiệp định được ký kết gần đây nhất – những đặc quyền dành cho nhà phát minh
(thường được gọi là “quyền của nhà gây giống ”) đòi hỏi một bên khác ngoài chủ
sở hữu các đặc quyền đó được ủy quyền:
·
tạo ra hoặc tái tạo một sản phẩm
đã được bảo hộ;
·
sử dụng sản phẩm đó để nhân rộng,
và
·
bán hoặc tiếp thị, xuất khẩu,
nhập khẩu hoặc dự trữ sản phẩm đã được bảo hộ.
Để hưởng độc quyền, người gây giống phải phát minh ra một loại cây
mới hoàn toàn mới, đặc thù, thống nhất và ổn định. Tuy nhiên, theo Công ước UPOV,
một người nhân giống cây nhìn chung không cần có ủy quyền từ những người nhân
giống cây khác khi sử dụng các giống cây đã được bảo hộ để tiến hành các hoạt
động không vì mục đích thương mại hoặc thí nghiệm nhằm tìm ra các loại cây mới.
Công ước UPOV cũng cho phép mỗi quốc gia thành viên hạn chế độc quyền của người
nhân giống đối với bất kỳ một loại cây nào có thể cho phép người nông dân sử
dụng một phần thu hoạch của họ để trồng trên mảnh đất của họ sau này. Tuy
nhiên, những hạn chế như vậy cần phải nằm trong giới hạn cho phép và cần phải
bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người nhân giống.
Các quốc gia thành viên tổ chức hội nghị của Hội đồng chấp hành –
cơ quan thường trực của công ước - hai năm một lần. Các cơ quan khác của UPOV
bao gồm Ủy ban Hiệp thương, Ủy ban Hành chính và Pháp luật, Ủy ban Kỹ thuật,
gồm nhiều nhóm làm việc kỹ thuật (TWP) trong các lĩnh vực khác nhau của ngành
nông nghiệp. TWP họp định kỳ để chia sẻ và thảo luận những nhận xét và tiến bộ
đạt được trong các lĩnh vực của nông nghiệp. Điều này giúp họ chuẩn hóa các
tiêu chuẩn kiểm tra ở các quốc gia thành viên. Các cuộc họp của TWP đem lại lợi
ích cho những người nhân giống vì các tiêu chuẩn càng thống nhất thì càng tăng
cường tính nhất quán trong quá trình lập hồ sơ đăng ký ở nhiều quốc gia khác
nhau.
Tính đến ngày 29/6/2005, đã có 59 quốc gia tham gia Công ước UPOV.
Dự kiến trong vài năm tới sẽ có thêm nhiều quốc gia tham gia ký kết UPOV
KẾT LUẬN
Trong kỷ nguyên thông tin, với tốc độ tiến bộ công nghệ ngày càng
nhanh thì chỉ thực thi Hiệp định TRIPS không thôi vẫn chưa đủ tạo lập một hệ
thống sở hữu trí tuệ vững chắc. Cho dù tới thời điểm này TRIPS là hiệp định đầu
tiên quy định đầy đủ về quyền sở hữu trí tuệ nhưng hiệp định này cũng đã ra đời
được một thập kỷ và hiện cho thấy đây là một hiệp định “ra đời đúng lúc cấp
bách”. Những tiến bộ công nghệ trong ngành thông tin, sinh học và các ngành
khác đòi hỏi chúng ta phải chỉnh sửa những bộ luật quốc tế và quốc gia về bảo
hộ sở hữu trí tuệ. Rất may là WIPO đã đi đầu trong việc đưa ra những chuẩn mực
quốc tế mới nhằm đáp ứng những thách thức này.
WIPO cũng đã nêu ra cách đơn giản hóa và hợp lý hóa những thủ tục
tìm kiếm, giữ gìn và duy trì các quyền sở hữu trí tuệ ở nhiều quốc gia. Thông
qua “Dịch vụ Bảo hộ Toàn cầu” và các hiệp ước mang tính dung hòa, WIPO đã giúp
các nhà sáng chế và các Cục Sở hữu trí tuệ Quốc gia tiết kiệm được rất nhiều
thời gian và sức lực. WIPO cũng luôn sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật cao cấp cho việc
thiết lập và nâng cấp hệ thống IPR toàn cầu. Các quốc gia nên tham vấn cả WTO
lẫn WIPO khi xây dựng hệ thống IPR của riêng mình.
___________________________________
Paul E. Salmon là luật sư chuyên về bằng sáng chế của
Phòng Hợp tác Quốc tế, Cục Nhãn hiệu và Bằng sáng chế Hoa Kỳ. Ông Salmon đồng
thời là Tùy viên về Sở hữu trí tuệ tại Geneva, Thụy Sỹ đại diện cho Chính phủ
Hoa Kỳ trong các cuộc họp của WIPO và WTO. Ông thường xuyên giảng bài với chủ
đề về luật quốc tế đối với bằng sáng chế.
Tags:
tin-tuc-so-huu-tri-tue
Ý kiến bạn đọc [ 0 ]
Ý kiến của bạn